Richard Bratby
5/7/2018

Richard Bratby bắt đầu một loạt bài viết mới phác thảo một định nghĩa và tóm tắt lịch sử của các thể loại âm nhạc khác nhau.


Phần mở đầu của bản giao hưởng số 5 của Beethoven (1808) là một trong những giây phút nổi tiếng nhất trong lịch sử âm nhạc.

“Một tác phẩm viết cho dàn nhạc qui mô lớn, thường với bốn chương (movement), trong đó ít nhất một chương được viết theo thể sonata[1].” Sách giáo khoa của tôi đã đinh ninh rằng định nghĩa của một bản giao hưởng rõ ràng là vậy. Như thế thì cũng là tạm ổn cho một cuốn sách giáo khoa. Nhưng ngay sau khi tôi bắt đầu khám phá xa hơn – và không phải tất cả những nhà sưu tập dĩa nhạc, theo định nghĩa, là những nhà thám hiểm sao? – tôi thấy symphony số 5 của Sibelius chỉ có ba chương thì mới nhận ra rằng “tạm ổn” đã không thật là ổn lắm. Thôi thì hãy mở cuốn từ điển ra để coi những định nghĩa xem sao. Sinfonia (trong tiếng Ý) có nghĩa là ‘cùng vang lên một lúc’, và trong những vở opera thuở sơ khai như L’Orfeo của Monteverdi (1697) chẳng hạn, đó là phần gian tấu của khí nhạc hoặc phần báo trước một bi kịch. (Hầu hết chúng ta đều quen thuộc với ‘Pastoral Symphony’ trong Messiah của Handel, và cho mãi đến năm 1871 Verdi vẫn còn diễn tả bài overture – sau này ông bỏ và thay thế bằng một đoạn Prelude ngắn – cho vở Aida như một sinfonia.)

Sinfonias trong opera thời Baroque phát triển thành overture với nhiều phần của Ý – một ví dụ sớm nhất là Rinaldo(1711) của Handel; bản giao hưởng số 29 của Mozart (1779) là một ví dụ sau này – bắt đầu có những chương chậm và theo kiểu nhạc khiêu vũ (thường là những minuets). Tới nửa sau của thế kỷ 18, khi các nhà soạn nhạc thường xuyên viết các bản giao hưởng độc lập (mặc dù bản giao hưởng ‘London’ của Haydn năm 1791-95 vẫn được mô tả là ‘overtures’), một khái niệm khác đã xuất hiện. Hans Keller đã mô tả đó là “sự hợp nhất với quy mô lớn của các phần tử đối lập lẫn nhau”: khái niệm về bản giao hưởng như một tác phẩm với nhiều phần, thông qua một tranh luận thuần túy âm nhạc, xây dựng từ những ý tưởng khác xa nhau và những cảm xúc thành một cái gì đó lớn hơn là tổng cọng của các phần gọp lại. Chín bản giao hưởng của Beethoven vẫn còn được coi là đỉnh cao.

Nhưng Beethoven là Beethoven – rất là khó để theo bước chân ông. Schubert tách ra theo một thế giới mới hoàn toàn trong bản giao hưởng “Great” C trưởng của ông (1826). Schumann và Mendelssohn thì viết không bản giao hưởng nào giống bản giao hưởng nào cả; Brahms và Bruckner chật vật thể loại giao hưởng trong nhiều thập niên, và Berlioz – bắt đầu với Symphonie fantastique (1830) cho tới đỉnh cao trong bản hợp xướng bi thảm Roméo et Juliette (1839) – đi theo một hướng khác: bản giao hưởng như bản thi ca bi tráng vĩ đại. Bản giao hưởng Pathetique (1893) của Tchaikovsky đã cho thấy rõ ràng rằng: những phần đối lập trong âm nhạc có thể được hợp nhất bởi sức mạnh tình cảm to lớn, cũng như là những tranh luận thông thường vậy.

Cho nên vào đầu thế kỷ 20 Gustav Mahler đã có thể tuyên bố với Jean Sibelius rằng ‘Bản giao hưởng phải giống như thế giới – nó phải bao gồm mọi thứ‘. Sibelius đã nói rằng ông ngưỡng mộ logic bên trong của bản giao hưởng, và thật khó để tưởng tượng hai tác phẩm khác nhau hơn là bản giao hưởng số 8 khổng lồ của Mahler (‘Symphony of a Thousand’ – 1907) và bản giao hưởng một chương số 7 (1924) cực kỳ tập trung của Sibelius. Nhưng không thể nào nhầm lẫn được là cả hai đều là bản giao hưởng, trong một thế kỷ khi từ “bản giao hưởng” có thể gây ra nhiều tranh cãi. Stravinsky (Symphonies of Wind Instruments – 1920), Webern (1928) và Berio (Sinfonia – 1969) đã từ bỏ ba thế kỷ của truyền thống giao hưởng; Messiaen (Turangalîla-Symphonie – 1948) và Bernstein (Kaddish – 1963) đã thăm dò cái thế giới vô hạn của Mahler.

Tuy nhiên đối với những nhà soạn nhạc khác khác – từ Shostakovich, Nielsen và Vaughan Williams đến Aaron Copland, Michael Tippett và Bohuslav Martinů – bản giao hưởng là một sự khẳng định công khai về giá trị của con người trong một thế kỷ dã man. Hans Werner Henze đã sử dụng bản giao hưởng để chất vấn di sản âm nhạc của mình. “Giao hưởng vẫn sống!” Lời tuyên bố đầy kinh ngạc của một tờ báo Berlin sau buổi công diễn đầu tiên bản giao hưởng số 7 của Henze vào năm 1984, chỉ vài tháng trước khi Harmonielehre của John Adams vang dội trên bầu trời California. Cũng dễ hiểu tại sao Adams không gọi đây là một bản giao hưởng. Rất ít thuật ngữ âm nhạc nào có nhiều quá khứ như “bản giao hưởng” vậy. Và giờ đây để viết một bản giao hưởng, có nghĩa là bạn tham dự vào một nỗ lực liên tục đầy tham vọng nhất của âm nhạc phương Tây để sáng tạo ý nghĩa bằng âm thanh; tuyên bố cho thế giới rằng bạn có một điều gì đó quan trọng để nói – và sẽ dùng tất cả sức mạnh sáng tạo của bạn để nói lên điều đó.

 

Richard Bratby
Nguyễn Sĩ Hạnh phỏng dịch

Nguồn: https://www.gramophone.co.uk/feature/what-is-a-symphony

 

Chú thích:

[1] Thể Sonata: https://en.wikipedia.org/wiki/Sonata_form