Va, pensiero“, dịch sang tiếng Anh là “The Chorus of the Hebrew Slaves“, là một bài đồng ca trong màn 3 của vở opera Nabucco của Verdi. Xin được dịch đại sang tiếng Việt là “Bài đồng ca của những người nô lệ“.

Giuseppe Verdi (1813-1901) là một trong hai nhạc sĩ viết opera nổi tiếng nhất của Ý (ông kia là Puccini). Hai vở opera đầu tiên do Verdi viết không đuợc thành công cho lắm. Lại thêm vợ chết nên Verdi xuống tinh thần không muốn sáng tác nữa. May nhờ có một nhà hảo tâm giúp đỡ tiền bạc và khuyến khích, nên ông tiếp tục viết vở Nabucco, ra mắt năm 1842 và thành công rực rỡ, từ đó ông “lên” luôn. Chuyện kể rằng là nhờ “Bài đồng ca của những người nô lệ” này mà ông có hứng tiếp tục sáng tác. Cuối đời tính lại ông viết tổng cọng 37 vở opera!

Nabucco là một vở opera bốn màn, lời viết bởi Temistocle Solera dựa trên kinh thánh và một vở kịch viết năm 1836 của Auguste Anicet-Bourgeois và Francis Cornue. Nabucco kể lại đời sống khổ cực đọa đày của người Do Thái, khi vua Nabucco của Babylon tấn công và chiếm đóng Jerusalem in 586 BC, và đuổi họ ra khỏi quê huơng, bắt đi đày bên xứ Babylon.

Bài đồng ca của những người nô lệ” ở vào màn ba của vở opera, lấy theo ý của bài thánh vịnh (Psalm) 137. Bài thánh vịnh này diễn tả nỗi nhớ nhà của người Do Thái đang bị lưu đày ở bên Babylon.

Xin mời các bạn nghe “Bài đồng ca của những người nô lệ“, Riccardo Muti chỉ huy dàn nhạc và ban hợp xướng của  nhà hát Opera Roma:

Còn đây là “cây đại thụ” Pavarotti và ca sĩ nhạc rock người Ý Zucchero Fornaciari song ca:

Clip này cũ, năm 1985, âm thanh không xuất sắc, nhưng ban “hợp xướng” thì toàn là siêu sao thứ thiệt! Coi lại thì thấy hồi đó Agnès Baltsa, Sarah Brightman, José Carreras … sao mà trẻ quá!

Nguyên văn tiếng Ý:

Va’, pensiero, sull’ali dorate;
va’, ti posa sui clivi, sui colli,
ove olezzano tepide e molli
l’aure dolci del suolo natal!

Del Giordano le rive saluta,
di Sionne le torri atterrate…
Oh mia patria sì bella e perduta!
Oh membranza sì cara e fatal!

Arpa d’or dei fatidici vati,
perché muta dal salice pendi?
Le memorie nel petto raccendi,
ci favella del tempo che fu!

O simile di Sòlima ai fati
traggi un suono di crudo lamento,
o t’ispiri il Signore un concento
che ne infonda al patire virtù.

Dịch sang tiếng Anh:

Fly, thought, on wings of gold;
go settle upon the slopes and the hills,
where, soft and mild, the sweet airs
of our native land smell fragrant!

Greet the banks of the Jordan
and Zion’s toppled towers…
Oh, my country so lovely and lost!
Oh, remembrance so dear and so fraught with despair!

Golden harp of the prophetic seers,
why dost thou hang mute upon the willow?
Rekindle our bosom’s memories,
and speak of times gone by!

Mindful of the fate of Jerusalem,
either give forth an air of sad lamentation,
or else let the Lord imbue us
with fortitude to bear our sufferings!

Không biết là Nabucco đã có bao giờ đuợc dàn dưng ở Việt Nam chưa. Và cũng không biết là đã có ai dịch “Bài đồng ca của những người nô lệ” chưa. Muốn dịch lời ca bài này từ muời mấy năm nay mà không nổi nên chỉ dám dịch đại ý ra:

Bay trên đôi cánh vàng
về lại trên những đồi và núi ở quê nhà
ở nơi đó, dịu dàng và mát mẻ
khí trời ngọt ngào thơm ngát một mùi hương!

Xin chào mừng bờ sông Jordan cũ
và những tháp xưa của Zion cao vòi vọi…
Ôi quê hương yêu dấu nay còn đâu!
Ôi ký ức sao thân thương mà ngập tràn tuyệt vọng

Cây đàn hạc của nhà tiên tri
sao lại treo im lìm trên nhành dương liễu?
Gợi nhớ lại những kỉ niệm êm đềm
và nhắc về những tháng ngày xưa cũ!

Nghĩ về số phận của Jerusalem
muốn rên xiết lên những lời than buồn bã
hay là xin Thương đế ban cho chúng con
sức mạnh để âm thầm chịu đựng nỗi đau khổ này!

Nguyễn Sĩ Hạnh