Nguyên tác: The Wizard and the Hopping Pot, trong The Tales of Beedle the Bard, J. K. Rowling

Ngày xưa có một ông phù thủy già và tốt bụng, ông thường dùng phép thuật của mình một cách rộng rãi và chính chắn để giúp những người hàng xóm. Thay vì để lộ tài phép của mình ra, ông giả bộ là mọi thuốc chữa bệnh, bùa phép và thuốc giải độc của ông đều là từ trong một cái vạc nhỏ mà ra, ông gọi nói là cái vạc may mắn. Khắp nơi xa gần trong vùng, thiên hạ tới gặp ông với những rắc rối bệnh tật của họ, và ông vui vẻ quậy vô cái vạc và chữa trị giúp họ.

Ông phù thủy tốt bụng này sống thọ, rồi qua đời, để lại gia tài cho người con trai duy nhất, cũng là phù thuỷ. Cậu phù thủy trẻ này lại hoàn toàn khác ông cha mình. Theo ý cậu thì những ai không biết phép thuật thì không ra gì cả, và cậu thường chống lại chuyện ông già mình hay dùng phép thuật để giúp láng giềng.

Sau khi cha mất, cậu phù thủy trẻ tìm thấy trong cái vạc cũ một cái gói nhỏ đề tên cậu. Cậu mở gói ra, hi vọng là có ít vàng, nhưng chỉ thấy có mỗi một chiếc vớ dày và mềm, nhỏ quá để mang lọt vô chân, và chỉ mỗi chiếc một. Bên cạnh là một lá thư với một dòng chữ, “Hi vọng là con sẽ không bao giờ cần tới chiếc vớ này”.

Cậu phù thủy trẻ càm ràm về ông già mình đầu óc lẫn, xong quăng chiếc vớ vô lại cái vạc cũ, tính là sẽ dùng nó làm miếng giẻ lau.

Tối hôm đó một người đàn bà già bần cố nông lại gõ cửa.

“Thưa ông, đứa cháu gái tôi bị ong vò vẽ cắn,” bà ta nói với cậu phù thủy trẻ. “Ông bác thường pha chế một loại thuốc giải từ cái vạc cũ.”

“Ổng chết rồi!” cậu phù thủy trẻ la lớn. “Ong cắn thì mặc cháu bà chớ tôi lo làm chi?”

Xong anh đóng sầm cửa lại trước mặt người đàn bà.

Ngay lập tức, từ trong nhà bếp vọng ra tiếng rầm rầm. Cậu phù thủy trẻ lật đật chạy xuống và mở cửa nhà bếp ra coi, sửng sốt anh thấy cái vạc cũ của ông già mình: tự nó mọc ra một cái chân đồng, và đang nhảy loi choi một chỗ, giữa phòng, trên sàn đá gây ra tiếng ồn nghe muốn điếc con ráy. Thắc mắc không biết chuyện gì đã xảy ra, cậu phù thủy mới bước lại gần để coi cho rõ, nhưng lật đật thối lui lại khi cậu thấy trong vạc đầy ong vò vẽ.

“Mấy con ong này kinh tởm quá!” cậu la lên, và cậu ra tay rán làm phép trước hết là làm cho cái vạc biến mất, rồi tới lau dọn kì cọ nó, xong đẩy cái nó ra ngoài sân. Tuy nhiên khưng không có phép nào linh nghiệm hết, và cậu cũng không thể nào cản được cái vạc nhảy lóc cóc theo cậu từ nhà bếp lên tới phòng ngủ, chân dậm rầm rầm trên cầu thang gỗ.

Cậu phù thủy suốt đêm không ngủ được vì cái vạc đầy ong cứ nhảy lóc cóc bên giường, và sáng dậy nó lại cứ lóc cóc nhảy theo cậu xuống bàn ăn sáng. Cốc, cốc, cốc, cứ vậy là cái vạc đồng một cẳng nhảy loi choi bên cạnh cậu. Và cậu phù thủy chưa kịp rờ tới chén cháo thì đã có tiếng gõ cửa.

Một ông già đứng trước cửa.

“Thưa ông, con lừa của tôi,’ ông già phân trần. “Không biết là nó đi lạc hay là bị ăn cắp mất, mà không có có nó thì tôi không làm sao mang hàng ra chợ được, và gia đình tôi sẽ không có gì ăn tối nay.”

“Còn tôi thì đang đói bụng bây!” cậu phù thủy la lên, và đóng sầm cửa lại.

Cốc, cốc cốc, cái vạc đồng một cẳng nhảy lon ton trên sàn nhà, nhưng bây giờ thì thêm những tiếng la của một con lừa và lời than thở của mấy người đói bụng vọng lên từ đáy của cái vạc.

“Đứng lại, im đi!” cậu phù thủy la lên đến khản tiếng, nhưng phép thuật của cậu không đủ sức để làm cho cái vạc đồng im lặng, và nó cứ nhảy cà tưng, lẽo đẽo đi theo cậu suốt ngày.

Tối đó lại có tiếng gõ cửa, và đứng trước cửa là một người đàn bà khóc sụt sùi như đang có chuyện rất buồn. “Con tôi bị bệnh nặng,” bà nói. “Làm ơn giúp con tôi. Ba cậu dặn là khi nào có chuyện bệnh tật rắc rối gì thì lại đây.”

Nhưng cậu phù thủy không trả lời và đóng sập cửa lại.

Và giờ đây cái vạc đồng đầy nước mắt, và nước mắt chảy lòng thòng khi nó nhảy trền sàn nhà, tiếng lừa kêu rên rỉ và ong vò vẽ bay ra.

Trong suốt tuần, mặc dù không có ai tới gõ cửa nữa nhưng cái vạc đồng tiếp tục báo cáo với cậu phù thủy về những người bị bệnh trong làng. Chỉ có mấy ngày mà không những chỉ tiếng lừa rên rỉ, nước măt chảng lòng thòng, và ong vò vẽ bay ra ra, mà còn tiếng sặc và nôn mửa, tiếng con nít khóc, tiêng chó sủa ăng ẳng, phô ma cũ và sữa chua văng ra và mấy con ốc sên đói khát.


Cậu phù thủy không ngủ được, không ăn được với cái vạc đồng lúc nào cũng kè kè một bên, nhưng cái vạc không chịu để cậu yên thân một mình, và cậu không cách gì có thể làm cho nó đứng yên và im lặng một chỗ.

Sau cùng, cậu phù thủy chịu hết nổi.

“Hãy đem lại đây tất cả mọi rắc rối, mọi bệnh tật và mọi phiền muộn lại đây cho ta!” cậu la lên, lao mình vào bóng đêm, đi dọc theo con đường làng, với cái vạc đồng nhảy cà tưng bên cạnh. “Lại đây, hãy để ta chữa bệnh cho các ngươi, và giúp các người được bình an lành lặn! Ta có cái vạc may mắn của ông già để lại, ta sẽ giúp các người!”

Và với cái vạc đồng vẫn nhảy cà tưng sau lưng mình, cậu phù thủy chạy dọc theo đường làng, quẫy cây đũa thần làm phép đủ mọi hướng.

Trong nhà, cô bé gái bị ong vò vẽ cắn được lành lặn trong giấc ngủ. Con lừa đi lạc đượckéo từ một đám cây tầm xuân và dẫn về chuồng; đứa bé bị bệnh thì được chữa, hồng hào trở lại. Khắp mọi nhà có bệnh tật và buồn rầu, cậu phù thủy ráng hết sức để giúp đỡ họ, và từ từ cái vạc đồng bên cạnh cậu bớt rên rỉ và nôn ọe, và nó trở nên im lặng, sạch sẽ và bóng loáng.

“Như vậy được chưa, Ông vạc?” cậu phù thủy run rẩy hỏi, khi mặt trời bắt đầu mọc.

Cái vạc mới ựa ra chiếc vớ dày mà cậu đã thảy vô nó hồi trước, và cho phép cậu mang vô cái chân của nó. Xong cả hai quay về nhà, cái vạc nhảy lon ton bên cạnh nhưng êm ru không nghe tiếng ồn nữa.

Kể từ ngày đó về sau, cậu phù thủy giúp đỡ dân làng như cha cậu hồi xưa vậy, vì e là cái vạc đồng lại cởi vớ ra và bắt đầu nhảy lóc cóc thì khổ.


Nguyễn Sĩ Hạnh phỏng dịch