Haiku là một thể thơ của Nhật bản, mỗi bài gồm có 17 âm ( on ) trong ba câu:
– câu đầu (5 âm)
– câu giữ (7 âm)
– câu cuối (5 âm) .

Bài thơ haiku nổi tiếng nhứt có lẽ là bài Ao Cũcủa Bashō:

古池や 蛙飛込む 水の音
furuike ya kawazu tobikomu mizu no oto

Cái ao cũ kỹ kìa
Chú ếch nhỏ nhảy phóng đầu vào
Tiếng nước chảy lao xao ..

(Trần Bình An dịch)

Điển hình, bài thơ haiku có một kigo, là chữ hay một nhóm chữ chỉ về một mùa trong năm, và một kireji , là chữ ngắt.

Ở Nhật, theo truyền thống thì haiku được viết thẳng lèo một hàng, trong khi thơ haiku bằng tiếng Anh hay tiếng Việt thì được viết trong ba hàng.

Nguồn gốc

Haiku phát triển mạnh vào nửa đầu thời kỳ Edo nhờ hai đại thi hào Matsuo Bashō (1644–1694) và Ueshima Onitsura (1661–1738).

Hokku là đoạn đầu của bài thơ thể loại renga, do nhiều người làm bằng cách họa từng câu, hay là biến thể của nó là renku (hay là haikai no ranga, thơ trào phúng, cũng do nhiều người làm bằng cách họa từng câu nhưng không theo luật lệ khắc khe như renga). Hokku chỉ là đoạn mở đầu nhưng chiếm một vị trí quan trọng trong bài thơ vì làm cái nền cho ý tứ cả bài renga hay renku. Tới thời Matsuo Bashō (1644–1694) thì hokku đã trở thành bài thơ độc lập, và cũng thường được dùng trong haibun (sáng tác kết hợp văn xuôi với hokku) hay haiga (sáng tác kết hợp tranh vẽ với hokku). Tới cuối thế kỷ 19, Masaoka Shiki (1867-1902) đổi tên hokku thành haiku. Những hokku cũ (đoạn mở đầu của những bài renga hay renku) cũng đươc. gọi là haiku luôn.

On

Thơ Nhật tính bằng đơn âm hay on. Mỗi âm tính là một on, nguyên âm kép tính thành hai on, và chữ n ở cuối chữ cũng được tính một on. Ví dụ chữ “haibun” thì được tính tới 4 on (ha-i-bu-n). Thơ haiku tiếng Việt thì chắc dễ tính hơn, một chữ là một on!

Kigo

Theo truyền thồng thì một bài thơ haiku phải có một kigo, một chữ hay một câu để nói về một mùa trong năm, trực tiếp hay gián tiếp. Tuy nhiên thơ haiku hiện đại thì không cần.

Thi sĩ Nhật thường dùng saijiki là cuốn tự điển cho kigo, mỗi chữ trong cuốn tự điển này thường có lời cắt nghĩa dính tới mùa nào, rồi mấy chữ tương tự và vài haiku có chữ này. Saijiki chia làm 4 mùa cho dễ tìm. Sau đây là vài ví dụ:

Mùa hè:
– mùa màng: lập hạ
– trời: khô hạn, cầu vòng
– đất: thác nước, lụt, cánh đồng
– thú vật: sứa, muỗi, rắn
– cây cỏ: hoa sen, hoa sún, hoa hướng dương

Kireji

Chữ ngắt, thông thường ở cuối của một trong ba câu của một bài thơ haiku. Khó mà diễn tả chính xác nhiệm vụ của chữ ngắt trong một bài thơ haiku, nhưng nhờ nó mà bài thơ ra một bài thơ, có kết cấu vững vàng.

Nếu ở cuối câu thì chữ ngắt làm cho câu thơ có hậu, kết thúc một các nghiêm chỉnh rõ ràng. Dùng ở giữa câu thì nó ngắt dòng suy nghĩ của người đọc, chia câu thơ làm hai phần độc lập lẫn nhau. Nó đánh dấu một chổ nghỉ, cả về văn phạm lẫn giai điệu, và làm cho người đọc cảm nhận đoạn đầu thêm sâu sắc.

Trong thể thơ renga có 18 kireji, về sau haiku cũng dùng luôn, một vài kireji thông dụng là:

ka: nhấn mạnh, ở cuối câu thì ý là câu hỏi
kana: nhấn mạnh, thường ở cuối bài thơ, chỉ sự tán dương, khen ngợi
ya: nhấn mạnh những chữ đi trước, thường chi bài thơ làm hai phần, và mời người đọc suy nghĩ về sự liên hệ giữa hai phần này

Một vài bài haiku

Bài thơ haiku nổi tiếng nhất có lẽ là bài Ao Cũ của Bashō

古池や 蛙飛込む 水の音
furuike ya kawazu tobikomu mizu no oto

chia ra thành on như sau:

fu-ru-i-ke ya (5)
ka-wa-zu to-bi-ko-mu (7)
mi-zu no o-to (5)

Cái giếng là kigo, ya (ở cuối câu đầu) là kireji. Dịch sang tiếng Việt:

Cái ao cũ kỹ kìa
Chú ếch nhỏ nhảy phóng đầu vào
Tiếng nước chảy lao xao ..

(Trần Bình An dịch)

Phùng Khánh (Thích Nữ Trí Hải) dịch bài thơ này dùng haiku kiểu hiện đại, 3-5-3 thay vì 5-7-5:

Mảnh ao già
Con ễnh ương nhảy vào
Tiếng nước khua.
(Phùng Khánh dịch)

Bài thơ sau cùng của Bashō làm trước khi chết:

tabi ni yande / yume wa kareno wo / kake meguru

Kareno (cánh đồng khô) là kigo, yande la kereji.. Dịch sang tiếng Việt:

Ngã bệnh trên dặm trường
Để giấc mơ chạy vòng bốn phương
Trên cánh đồng khô cỏ

(Trần Bình An dịch)

Và sau cùng xin mạn phép chuyển bài thơ Con Cóc ra thể haiku như sau:

Cóc trong hang nhảy ra
Cóc nhảy ra rồi cóc ngồi đó
Ngồi đó rồi nhảy đi

 

Nguyễn Sĩ Hạnh
viết theo wikipedia.org

PS. Xin cám ơn hai anh Trần Bình An và Hồ Ngạc Ngữ đã góp ý cho bài viết này. NSH.