Ông ngoại không có con trai, má tôi là con đầu lòng, nên khi có cháu trai đầu lòng ông Ngoại xin về nuôi. Tôi thứ năm, hai anh em cách nhau sáu tuổi, không biết là anh Hai(1)  về sống bên ngoại từ năm nào, chỉ nhớ là ít khi có dịp gặp anh. Anh học tiểu học ở quê ngoại xong xuống Qui Nhơn học trung học Cường Để, ở trọ nhà một người dì.

Năm tôi bảy, tám tuổi gì đó, học lớp tư(2), anh Hai về nhà nghỉ hè. Trước khi xuống lại Qui Nhơn, anh cho tôi một đôi giày săn-đanh cũ. Đôi giày chắc là anh mang đi học cả hai năm đệ Thất và đệ Lục, nay chật mà còn tốt nên để lại cho tôi. Tôi mừng quá cỡ, lau chùi đôi giày cho sạch sẽ rồi cất kỹ trong tủ.  Dĩ nhiên là tôi đã mang vừa đâu, chỉ lâu lâu có một mình tôi đem ra ngắm nghía, xỏ chân vô thử, và mơ về cái ngày khi hai bàn chân tôi đủ lớn, để được mang giày đi học, để khỏi phải mang dép mo tre nữa!

Chuyện dép mo tre thì phải kể dài dòng một chút cho có đầu có đuôi. Quê nội tôi nằm dọc theo một dòng sông nhỏ ranh giới giữa hai quận An Nhơn và Tuy Phước. Bên phía An Nhơn này, trường tiểu học của xã ở phía trên trụ sở xã, xa làng hơn là trường tiểu học phía bên Tuy Phước. Cho nên trẻ con trong làng đều đi bộ qua cầu sang sông mà học tiểu học bên Tuy Phước. Nói là gần nhưng chắc cũng vài cây số kể từ nhà. Theo đường làng dọc theo bờ sông tới chợ Phú Đa, xong quẹo trái qua cầu, đi thêm một chút nữa là đụng “bùng binh” cây thị. Bên trái là đình làng, dùng làm phòng học cho lớp năm, bên phải là trường tiểu học. Tôi chỉ nhớ được tới đó là hết, đã bốn mươi mấy năm rồi chớ đâu phải mới hôm qua!

Học trò nhà quê hồi đó hình như đi học chân không cả đám, không giày dép gì cả. Không biết vì sao, chắc tại giày dép vẫn còn là một món xa xí phẩm. Đường làng, nói là đường làng nhưng là đường chính chạy từ trên quốc lộ xuống đâu tới Háo Lễ, Gò Bồi gì đó, nền đất cứng, dù phần lớn hai bên đương có cây cao bóng mát, nhưng những đoạn ở giữa đồng thì trời nắng cũng nóng lắm. Hôm nào nắng nóng quá chịu không nổi thì đám học trò tụi tôi lấy mo tre cắt ra làm dép mang cho đỡ nóng.

Năm tôi học tới lớp ba thì chiến tranh lan tràn tới quê nội. Mùa đông năm đó, du kích Việt Cọng đánh chiếm trụ sở xã, “giải phóng” luôn cả xã, quê nhà trở thành vùng oanh kích tự do, dân làng phần lớn tản cư đi khắp hướng. Ba tôi xuống Qui Nhơn trước, còn má và bảy tám chị em dắt díu nhau về quê ngoại. Trong lúc lật đật chạy giặc tôi quên bẵng đi đôi giày săn-đanh của anh Hai cho còn cất trong tủ.

Quê ngoại ở bên cạnh thành Đồ Bàn cũ. Ở vùng thấp nên hầu như năm nào cũng có lụt, không to thì nhỏ.Bốn mươi lăm năm rồi thú thiệt tôi không còn nhớ chi tiết lần tản cư đó. Chỉ còn nhớ là mùa đông năm đó, khi cả nhà tản cư về ở với ông bà Ngoại thì lại trúng năm lụt lớn, sau này hay gọi là trận lụt năm Thìn.

Nhà Ngoại ở trên một vùng đất cao, không hẳn là đồi, nhưng cũng là gò cao so với chung quanh. Cho nên khi nước mà vô tới sân nhà ông Ngoại thì làng xóm chung quanh đã ngập hết ráo rồi, đi qua đi lại phải dùng sõng. Khi nước vô trong nhà rồi thì cả nhà phải “di tản” lên trần nhà. Nhà quê thời đó, trần nhà làm bằng tre đập bằng ra, phía trên trần thì trải đất sét. Chắc là đã tính tới chuyện tránh lũ lụt trước nên khi làm nhà ông Ngoại đã làm trần nhà cao và cho phả bằng phẳng phía trên. Đồ đạc thì đã dọn lên trước, nhứt là mấy bao gạo, muổng đường, tỉn nước mắm, bao muối, hũ chao và thạp dưa cải. Khi nước tới đầu gối thì đám con nít tụi tôi phải “lên lầu” hết, không còn được chạy tới chạy lui dọc nước nữa.

Nước dâng lên từ từ, chỉ trong vòng một hai ngày gì đó là đã lút đầu. Ở trên trần nhà nhìn qua cửa sổ nhỏ chỉ thấy trời ,mây, nước, mấy đọt cây và những đồi sim xa xa chớ không thấy nhà cửa hay người ta gì hết. Nghe ông bà nói là chưa bao giờ lụt lên quá trần nhà nhưng ông Ngoại coi bộ lo lắng ra mặt, biểu người làm coi lại mấy cái sõng cho chắc ăn, lỡ có gì thì kéo cả nhà lên sõng.

Lên trần nhà rồi thì không có nhiều chuyện chơi nữa, tôi hay ngồi kế bên cửa sổ nhìn ra bên ngoài và nhớ tới Ba và anh Hai ở Qui Nhơn, rồi nhớ lan man đôi giày săn-đanh cũ còn kẹt lại ở nhà, và tiếc. Trong bụng nghĩ thầm là thôi kệ, chắc mai mốt cả nhà sẽ về lại nhà, hơi đâu mà lo.

Cũng may là nước chỉ lên gần tới la phong thì xùng xình đứng lại. Một hai ngày sau đó thì nước rút từ từ xuống. Cũng may, vì tôi nhớ là đồ ăn tích trữ đã hết ráo, thạp dưa cải hết sau cùng, mấy bữa cuối phải ăn cơm trắng chan nước mắm. Ông Ngoại phải ngóng chừng sõng của mấy người đi bán dạo để coi có đồ ăn thì mua thêm.

Về sau này tôi nghe kể lại là trong những ngày lụt lội này, Việt Cọng cũng đánh chiếm trụ sở xã, “giải phóng” luôn quê ngoại. Du kích đứng bên đồi Chùa, muốn qua bên nhà ngoại hỏi thăm mấy ông địa chủ mà qua không được vì nước lớn. Sau cơn lụt, gia đình tôi đành phải từ giã quê ngoại, tản cư một lần nữa xuống Qui Nhơn, đoàn tụ với ba tôi và anh Hai. Gia đình tôi sống ở Qui Nhơn từ đó. Tôi đoán đây là giai đoạn anh Hai thiệt sự sống với gia đình, vì được đâu mấy năm, đậu xong tú tài hai thì anh lại xa nhà đi du học.

Ở Qui Nhơn, tôi vô học tiếp lớp ba trường Nguyễn Huệ, đi học mang dép đường hoàng chớ không đi chân không như hồi còn ở trên quê. Tuy vậy tôi vẫn cứ tiếc hoài đôi giày cũ của anh Hai cho hồi đó, không biết là mình sẽ sướng rên mé đìu hiu tới cỡ nào khi mang được vừa đôi giày ấy.

Đôi giày săn-đanh cũ và những kỷ niệm về trận lụt năm Thìn nằm hoài trong đầu tôi từ đó. Có mỗi một mùa đông mà tôi phải từ biệt luôn cả quê nội lẫn quê ngoại, và đôi giày săn-đanh cũ. Về sau ra đời, những khi gặp những điều không được như ý tôi hay nhớ về đôi giày săn-đanh cũ và tự an ủi, thôi kệ, cũng như đôi giày cũ vậy, nhiều thứ có trong tay rồi mà chưa chắc gì mình hưởng được đâu, nói chi tới chuyện chim bay.

Mới đây qua Mỹ, dẫn vợ con thăm mấy cái shopping outlet từ San Jose qua Les Vegas xuống tới Los Angeles, không biết vợ tôi mua được mấy món, còn tôi thì lựa mua được mỗi một đôi giày săn-đanh, màu nâu, giống như đôi giày hồi xưa anh Hai cho vậy.

Nguyễn Sĩ Hạnh

11/2009
Chú thích:
(1) người trung hay kêu người con cả là thứ Hai
(2) hồi đó, lớp mẫu giáo, rồi lớp năm, lớp tư… tới lớp nhứt thì hết tiểu học