Thầy Nguyễn Mộng Giác qua đời, người người nhà nhà thương tiếc Thầy, đua nhau viết về Thầy, làm thơ về Thầy, viết về những sáng tác lớn nhỏ của Thầy (ngoại trừ mấy trang web chính thức của nhà nước!), vân vân và vân vân. Trang web nguyenmonggiac.info hơn cả ngàn người vô thăm một ngày (phải chi hồi xưa khi Thầy còn sống mà bà con chịu đọc như vậy thì Thầy vui biết mấy và biết đâu nhờ vậy mà sống lâu hơn chăng). Tôi cũng muốn viết một cái gì đó về Thầy, hay dở gì thì không quan trọng, vì nếu không trang web nào chịu đăng thì tôi bỏ lên cái blog cá nhân của mình là xong ngay. Nhưng viết gì đây. Tôi không làm thơ được, không lẽ viết tên tác phẩm của Thầy vô từng miếng giấy nhỏ xong bỏ vô cái mũ, xốc qua xốc lại rồi rút ra như xổ số, xong ráp lại thành bài thơ! Cũng không dám tám về Sông Côn Mùa Lũ hay Mùa Biển Động, vì thú thiệt tôi chưa từng đọc hết hai bộ trường thiên nổi tiếng của Thầy một mạch từ trang đầu tới trang cuối. Ngày xưa ở trường Trung Học Cường Để, lớp sau lại không học ban C nên đâu có may mắn được Thầy dạy môn Việt Văn. Sau năm 1975 tôi không có dịp gặp Thầy. Thầy vượt biên trước qua Galang, tôi đi sau, qua Singapore. Sau này lưu lạc qua xứ người, Thầy qua Mỹ, tôi xuống Úc… Dài dòng văn tự như vậy để cho các bạn hiểu là dù tôi thương tiếc Thầy ít ra cũng như rất nhiều cựu học sinh Cường Để cũ khác, hay hơn nữa là như một người bạn cũ với gia đình Thầy, nhưng để kể lể kỉ niệm cũ với Thầy thì tôi nên cẩn thận với những gì mình viết!

Trong đời một người đàn ông, phần lớn đều có một vài người đàn bà đặc biệt. Mẹ và vợ ở đầu bảng (đố ông nào dám nói khác đi, cùng lắm là chỉ dám thay đổi thứ tự!),  rồi những ai may mắn nữa thì có con gái. Rồi thì bà nội bà ngoại, người tình đầu tiên, cô bồ nhí sau cùng, vân vân và vân vân. Với tôi, ngoài mẹ và vợ ra thì cũng có vài người đàn bà đặc biệt mà tôi kính mến. Cô Diệu Chi là một (thật ra tôi hay gọi là Cô Chi, khi nói chuyện với Cô, Cô luôn xưng “Cô” và hô “con”, tôi cũng vậy, xưng “con” và thưa “Cô”). Người ta thường nói là đàng sau mỗi người đàn ông thành công đều có bóng dáng của một người đàn bà. Cô Chi là người đàn bà ấy của Thầy Giác.

Là học trò trường Cường Để, ai cũng quen thuộc với hình ảnh Cô Chi mặc áo dài bên cạnh Thầy Giác. Tôi còn nhớ thêm cái cảnh Thầy chở Cô trên chiếc xe lambretta màu xám. Hay là những buổi chiều sau giờ học Cô mặc đồ bộ đùa chơi với con cái trong sân trường Cường Để. Ấn tượng của tôi hồi đó tới giờ là cô là một người đàn bà có duyên, vui vẻ, ăn nói lịch thiệp, và đẹp. Về sau này, quen biết và hiểu Cô nhiều hơn, tôi biết Cô không những chỉ đẹp ở bề ngoài mà còn trong cả tâm hồn, trong suy nghĩ …

Thầy Giác vàCô Chi, Qui Nhơn, quãng 1970

Hồi đó tôi vượt biên mười lăm lần mười bảy lượt mà không xong, sau cùng nhờ Cô Chi giới thiệu một chỗ quen biết. Vài ngày trước khi đi, tôi thường ghé về nhà Cô ở Thị Nghè để lấy tin tức, vì hồi đó đâu có điện thoại nhà, nói chi mobileSMS!  Lúc đó Thầy đã qua Mỹ, nhà toàn đàn bà – như thời binh đao loạn lạc vậy – chỉ có Cô, đứa con gái út – Gini lúc đó đâu chừng 10 tuổi, và hai người chị bà con. Tôi không nhớ cái bàn gỗ Thầy viết Sông Côn Mùa Lũ được chụp hình lên mạng bây giờ, nhưng nhớ hoài cái ghế bành to tướng cũ kĩ màu đà bên cửa chính. Cô nói đó chỗ Thầy thường ngồi đọc sách, Thầy đi rồi cô không muốn thay đổi gì hết, nên giữ nguyên mọi thứ như cũ.

Bàn Viết

Lần đó tôi đi luôn một lèo. Mùa đông năm 1988 tôi qua Mỹ và ghé thăm Thầy thì Cô chưa qua. Mãi tới năm 2009 tôi mới có dịp qua thăm lại Mỹ lần nữa, hôm ghé thăm thì Cô không có ở nhà. Đại khái là 28 tám năm rồi tôi chưa gặp lại Cô. Nhưng hề gì, lúc Cô mới qua Mỹ tôi có nhận thư của Cô. Về sau này thỉnh thoảng tôi vẫn được tin về Thầy và Cô qua báo chí, trên mạng hay qua bạn bè người quen Bình Định Qui Nhơn… Coi hình trên mạng thấy cô vẫn tươi trẻ như ngày nào. Đôi lần nói chuyện với cô qua điện thoại, vẫn giọng nói Huế dễ thương, vẫn giọng cười khanh khách…

Tôi nghĩ ngày xưa là vợ của một Giáo Sư, Hiệu Trưởng hay Chánh Sự Vụ gì đi nữa thì cũng dễ hơn là làm vợ một người làm văn nghệ ở hải ngoại sau này. Ngay cả so sánh với mấy năm Thầy Giác ở Sài Gòn, ban ngày làm công nhân tổ hợp mì sợi, tối về nhà đốt đèn viết Sông Côn Mùa Lũ! Nhưng bạn văn nghệ của Thầy ai cũng khen Cô là một người vợ chiều chồng và rất hiếu khách [1]. Những năm Thầy làm tờ Văn Học, ngôi nhà của Thầy và Cô “ngày cuối tuần là thành Câu Lạc Bộ“[2]. Hàng tuần đều có “họp mặt thân hữu“, mỗi lần “ít nhất từ mười đến hai mươi người.” Cô có tài kể chuyện rất thông minh, dí dỏm, hài hước. Trong những buổi họp mặt này, Cô thường kể lại những giai thoại văn học, Cô bắt chước điệu bộ, cách nói của từng nhân vật Cô nói đến, rất đúng và hay [1].

Cứ như vậy, trong mười mấy năm trời từ khi Cô mới qua Mỹ, Thầy và Cô đã sống rất là vui vẻ và hạnh phúc, ngay cả những năm sau 2003 khi Thầy phát hiện có bệnh ung thư gan[3], tôi đoán ít ra cho tới năm 2007 khi Thầy về thăm nhà và bị lên cơn tim đột quỵ.

* * *

Được tin Thầy ra đi, tôi muốn gọi điện thoại qua chia buồn với Cô và gia đình liền nhưng ngại. Ngại là “tang gia bối rối”, đã buồn mà còn trăm chuyện phải lo, nên gọi điện thoại sợ phiền, chờ quỡn quỡn một chút rồi hẵn hay. Nhưng rồi cứ thấy áy náy trong lòng nên tôi email xin phép.

Qua điện thoại giọng cô cười nói vẫn không khác mấy so với năm ngoái hay ngay cả hồi xưa, dù có chút buồn rầu mệt mỏi. Cô nói nhiều, tôi một phần cảm động một phần không khéo lời trong những vụ chia buồn như vầy, nên chỉ nghe là chính. Cô kể chuyện bốn tháng rưỡi nay Thầy nằm trong nhà thương ra sao, giọng cô nghe đôi khi như bị lạc. Tôi hỏi là đang ở bệnh viện vì sao Thầy lại về nhà. Cô nói tự nhiên Thầy muốn vậy. Được về nhà Thầy rất là vui, và ngay hôm sau thì Thầy ra đi.

Cô nói để việc ma chay xong xuôi hết thì cô sẽ về thăm bên nhà một chuyến, cũng đã lâu rồi, lần sau cùng cô về là năm 2006. Cô sẽ về Huế và ghé Qui Nhơn, thăm và thắp nhang mồ cha mẹ mình và cha mẹ chồng. Tôi đoán là sâu trong tiềm thức cô muốn và cần được nghỉ ngơi sau một thời gian dài nuôi bệnh Thầy, và về Huế và Qui Nhơn cũng là để nhớ Thầy, để nhìn lại dấu vết kỉ niệm của những ngày xưa cũ, khi Thầy và Cô bắt đầu một mối tình to lớn, đẹp đẽ và mãi mãi …

Tôi tin chuyện vợ chồng là do ở duyên số, và nghĩ Thầy Giác là một người may mắn, vì có Cô làm bạn đi với mình suốt cuộc đời. Tôi phục Thầy ở chỗ là ngày xưa ở Đồng Khánh, gươm lạc giữa rừng hoa, cả mấy trăm cô nữ sinh chung quanh mà Thầy tinh mắt chọn đúng ngay Cô. Giả sử cho tôi lạc vô trường Nữ Trung Học Qui Nhơn thì chắc là tôi thấy trăm cô, cô nào cũng mười điểm hết ráo, biết đường đâu mà lựa!

Cô Trần Mộng Tú “triết lý” hơn tôi, cô hồi tưởng lại những buổi tối ra về sau những buổi họp mặt ở nhà Thầy Giác và Cô Chi: “Tôi nhìn ánh sáng của bóng đèn nhỏ, hắt xuống từ trên cao của cột đèn đường, soi một cái quầng sáng mềm mại vào bóng đêm, tôi nghĩ đến người đàn bà “Nguyễn Khoa Diệu Chi,” người đứng bên cạnh nhà văn lưu vong Nguyễn Mộng Giác. Đời chị như một ngọn đèn đường ban đêm, và chị đã cho anh hết cả cái cái quầng sáng nhỏ bé, mềm mại đó để anh tồn tại với thăng trầm của đời sống.” [1]

Nhiều người đã góp công sức để đưa Sông Côn Mùa Lũ tới người đọc. Trước hết dĩ nhiên Thầy là người viết, nhưng tôi nghĩ giờ mỗi khi giở cuốn truyện ra, hay nhấp con chuột trên mạng, người đọc phải cám ơn Cô Chi trước. Nếu ngày đó Cô không đem được tập bản thảo ra ngoài thì giờ này chớt quớt cả đám. Có bạn sẽ bàn là biết đâu Thầy viết lại và biết đâu sẽ hay hơn. Nhưng cũng chỉ là giả thuyết, sẽ không ai biết được mọi chuyện sẽ ra sao. Cũng như giờ Cô tự dằn vặt mình, sao năm 2007 không về Việt Nam với Thầy, để nhắc Thầy uống thuốc buổi sáng đó, biết đâu Thầy sẽ không bị cơn tim đột quỵ…

Thưa Cô, xin Cô đừng quá buồn, đời người ai cũng vậy, trước sau gì thì cũng tới một lúc phải ra đi. Cô như vậy là đã làm hết sức mình rồi với bổn phận của một người bạn đời. Thầy đã về nhà và ra đi bình an thanh thản, với vợ và con cháu yêu thương chung quanh mình. Nói theo kiểu tụi Tây thường nói, chúng ta hãy “celebrate” cuộc đời của Thầy (con không biết dịch sang tiếng Việt ra sao cho đỡ “chướng tai”). Thầy đã sống một đời viên mãn và thành toại, sáng tạo và nhiều cống hiến to lớn, để lại một gia tài đồ sộ cho văn học nước nhà và lòng thương tiếc của biết bao người gần xa.”

Mong Cô luôn được nhiều an vui với con cháu trong những ngày sắp tới.

Nguyễn Sĩ Hạnh
Melbourne, 5/7/2012

[1] Những cánh chim lưu xứ, Trần Mộng Tú

[2] Những Kỷ Niệm Với Nhà Văn Nguyễn Mộng Giác,    Nguyễn Chí Kham

[3] Tiễn Nguyễn Mộng Giác , Song Thao