Ngày vàng đó sông đời trôi vĩnh quyết
Bờ tang thương đứng ngóng biệt tăm người
(thơ Huỳnh Minh Lệ)

Năm nào cũng có một số lớn học trò Bình Định khăn gói vô Sài gòn học đại học. Năm nào cũng có một số thi đậu vô truờng Phú thọ. Tỷ lệ không biết bao nhiêu so với dân số nhưng chắc không nhiều bằng dân xứ Quảng hay Sài gòn. Năm 1974 học trò lớp 12 Cường Đễ có năm mạng đậu vô. Lê Khắc Tưởng vô Điện tử, Nguyễn Minh Tuấn vô Hóa, Trần Hiền vô Công Chánh, Trần Quang Kim vô Cơ Khí. Trường Kỹ Thuật thì có Lê Tuấn Dân, Trần Quang Lạc, Diệp Thế Nghĩa, vân vân. Có thể có anh em ở mấy trường trung học khác nữa mà mình không biết. Vô trường rồi mới biết là có một số đàn anh lứa 73 cũng đậu vô như Nguyễn Huyến, Lê văn Thành, Trần Yên Bình. Sau 30/4/1975, thêm một số anh em nữa từ mấy trường đại học tư qua như Đặng Đình Đức, Nguyễn Viết Dũng. Cũng bộn, nhưng sau 75 đâu có lập hội đoàn gì được đâu, cho nên không bao giờ nghe nói tới cái hội ái hữu sinh viên Bình Định ở Phú Thọ để mà có dịp mà tụ tập lại nhậu một lần.

Từ trái qua phải: Nguyễn Hoàng Lộc, Đặng Đình Đức, Thân Trọng Hoài, Trần Thanh Hùng, Nguyễn Vinh Quang, Nguyễn Sĩ Hạnh và Võ Văn Tấn, Đại Học Xá Minh Mạng, mùa hè 1975.

Sau 30/4/1975, chuyện đời thay đổi đủ thứ. Chẳng hạn trường Hàng Hải đóng cửa, sinh viên muốn qua học Cơ khí thì học, không thì Thủy lợi, Xây Dựng hay là Cầu đường. Được miễn chuyện quân sự học đường (cũng uổng, thành ra già đầu rồi mà chưa có dịp nào để bắn súng AK47 cho đã tay), nhưng vẫn phải học hai môn Chủ Nghĩa  Duy Vật Biện Chứng và Chủ Nghĩa Duy Vật  Sử quan. Sau này lưu lạc xứ người, có lần vui miệng đem ra khoe với tụi Úc, tụi nó phục sát đất, nói sao chú mày học engineering mà chọn mấy môn gì mà nặng ký quá cỡ vậy!

Còn anh em bạn bè trong trường trong lớp đem cái luật phân bố hình cái chuông  cho dễ nói chuyện. Phần giữa cái chuông là đại đa số anh em. Phần lớn thì lo học hành chăm chỉ cho đến khi đậu đạt ra trường, chuyện đảng đoàn thì người ta sao mình vậy. Một vài anh em tiêu cực hơn thì học cho có, cứ nhấp nhỏm đứng lên ngồi xuống chờ ngày về quê vượt biên. Một số thì tích cực hơn một chút, cũng bon chen phấn đấu nhưng cho tới ngaỳ ra trường có được lên tới đối tượng đoàn hay không thì cũng không thành vấn đề.

Ở một cạnh của cái chuông là mấy thầy chú, từ tổ trưởng lớp trưởng lên cho tới bí thư chi đoàn này nọ. Mấy anh em này thì hồ hỡi phấn khởi vô cùng, làm việc hăng say tích cực, rán phấn đấu cho được đối tượng đoàn, rồi vô đoàn, rồi đối tượng đảng, rồi quan này chức nọ vân vân. Đôi khi thấy anh em hăng hái phấn đấu dữ dội quá cỡ thợ mộc, bèn đâm ra phân vân nghi ngờ, không biết là trong bụng anh em như thế nào. Có lúc vái trời vái đất cho nhà nước ta làm đại  một cuộc cách mạng ruộng đất nữa. Để coi thử có anh em nào dám xâm mình về quê nhà đấu tố bà con của mình, như là chuyện hồi xửa hồi xưa.

Ba mươi năm là một quãng thời gian dài, dài đũ đễ biết đâu là vàng đâu là thau. Một vài anh em đã bỏ cuộc chơi hơi sớm, hoặc vượt biên qua Tây qua Mỹ làm người tị nạn buồn. Hoặc bị bắt ở lại, ở tù xong ra sự nghiệp cách mạng tiêu tán đường  bèn quay ra làm thầu tư hay là chủ tịch công ti cổ phần này nọ, nay trở thành tiểu gia đại gia, vân vân và vân vân. Phần còn lại thiệt tình không biết là được bao nhiêu trở thành những người cọng sản chân chính,  cần kiệm liêm chính, một lòng một dạ phục vụ đồng bào và đất nước , như lời Hồ Chủ Tịch dạy dỗ hồi xưa.

Trở lại hình cái chuông, cái cạnh còn lại là những “tâm hồn nổi loạn“, không biết là có bao nhiêu người, nhưng chắc là không nhiều. Đặng Đình Đức là một (Đặng Bắc Tiến là hai, Ngô thị Thanh Hương là ba, nhưng để bữa khác hẵn nói chuyện nông trường Phạm văn Cội)

Sau 30/4/1975, cuộc sống của một người sinh viên nghèo đâm ra lộn xộn vô cùng, nhứt là lại thêm xa nhà, tứ cố vô thân, thêm cái lý lịch thiệt là xấu nữa. Mấy năm học ở Phú thọ, Đức sống ở mấy nhà ở tập thể của sinh viên, ăn cơm nhà bàn, đôi khi còn không đủ tiền mua vé. Lâu lâu có chút tiền lẻ đủng đỉnh hai thằng rủ nhau qua bên cư xá Phú thọ uống cà phê đá, hút thuốc lá đen Vàm cỏ mà thấy đời hạnh phúc vô cùng.

Không nhớ chính xác lúc nào, nhưng vào cuối quãng cuối năm học 76/77 thì phải, phòng Tổ Chức kêu Đặng Đình Đức lên văn phòng và đuổi ra khỏi trường. Đức không nói là vì lí do gì, chỉ cảnh cáo là nên coi chừng vì thấy trên bàn có một tập hồ sơ dày cọm đề là  Hồ sơ theo dõi học sinh Đ. Đ. Đ và N. S. H.. Nghe mà ớn lạnh xương sống, đêm về lo lắng trong bụng không ngủ được.Không biết là có nên thôi kệ rán, tự phỉ nhổ mình, bỉ mặt mà theo nâng bi nịnh bợ thầy chú để đừng bị đuổi như Đức, để học cho xong cái bằng kỹ sư. Hay là nghe lời ông Phùng Quán, Yêu ai cứ bảo là yêu, Ghét ai cứ bảo là ghét, Dù ai ngon ngọt nuông chiều, Cũng không nói yêu thành ghét, Dù ai cầm dao dọa giết, Cũng không nói ghét thành yêu…

Bỏ Sài gòn, Đức về sống ở Sông Pha, làm cho mấy công trường thủy lợi ngoài đó kiếm sống. Đức có viết thư vô một đôi lần. Một hai năm sau gì đó, Đức có dịp về Sài gòn, hai thằng gặp nhau uống li cà phê sữa đá, hút mấy điếu thuốc thơm, tâm tình đại khái, rồi thôi. Đức da đen cho nên có đi làm công trường cũng không thấy đen hơn. Chỉ có cặp mắt buồn hơn một chút, không phải cái buồn tuyệt vọng của những ngày bị đuổi học mà là cái buồn của thực tế, của chấp nhận.

Sau này, nghe nói Đức lập gia đình có con, buổi tối đi ăn đám giỗ về cưỡi xe honda bị xe tải tông chết. Tin nghe sao mà đơn giản mà buồn não ruột như tin Đức bị đuổi học năm nào.

Vẫn  ray rức hoài là không có dịp gặp lại Đức một lần nữa. Để nhậu một trận cho thiệt đã, thiệt say. Mấy chục năm nay xa nhà không lần nào uống rượu cho tới khi say quắt cần câu. Cứ ấm ức, thiên hạ mang mang ai người tri kỉ, Lại đây cùng ta uống cạn một hồ trường!

Mới đây nghỉ lễ Melbourne Cup, như mọi năm,  chở vợ con đi xuống vùng biển Wilson Prom cắm trại với một vài anh em bạn. Nửa đêm nghe tiếng sóng vỗ rì rào không ngủ được. Nhớ nhà, nhớ chuyện xưa, lo chuyện nay. Mới chui ra khỏi lều, leo lên võng nằm đong đưa dưới tàn cây dương liễu mà rên rỉ vài bài thơ (tụi Úc chung quanh ngủ không được cũng không chết thằng tây nào!). Nhớ tới Đức và những đêm thơ khuya ỏ cư xá sinh viên hồi xưa. Từ thơ Bà Huyện, nhớ nước đau lòng con quốc quốc, thương nhà mỏi miệng cái gia gia, cho tới thơ tình của Nguyễn Bính, nhà nàng ở cạnh nhà tôi, cách nhau cái dậu mồng tơi xanh dờn. Rồi tới Quang Dũng, Hoàng Cầm, Trần Dần, Phùng Quán… tôi bước đi không thấy phố không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ. Khi thấy yêu đời một chút, thì chuyển qua thơ của bác Tố Hữu, từ ấy trong tôi bừng nắng hạ, mặt trời chân lý chói qua tim. Hứng chí thêm chút nữa, thì ngâm luôn bài Yêu biết mấy, nghe con tập nói, Tiếng đầu lòng con gọi Xích ta lin.

Chẳng bao giờ dám hỏi bà bí thư ở nhà là có thương cha thương mẹ thương chồng, thương con thương một thương ông thương mười không. Hồi thằng con trai sắp biết nói, rán để ý thử nó nói chữ gì trước. Sợ nó bật miệng Xích ta lin là chớt quớt. Cũng may, nó bập bẹ mấy tiếng ba ba. Thôi kệ, thời buổi này bia 33 nhập qua Úc cũng nhiều, mua uống cũng dễ và rẻ.

Cuối năm thay vì thắp nén nhang, viết vội vài hàng để nhớ lại một thằng bạn thân cũ. Ông Phạm Công Thiện ngày xưa viết Lạy trời cho ngày vui qua mau, cho tuổi trẻ chóng tàn, và cho những ngườ con gái đẹp chết lúc còn xuân đẹp. Hơi sexist so với thời buổi này, xin được mạn phép sửa lại là Lạy trời cho ngày vui qua mau, cho tuổi trẻ chóng tàn, và cho những người trẻ tuổi chết lúc còn xuân đẹp.

Nguyễn Sĩ Hạnh
Mùa Noel 2008