Hai tuần qua, hai vợ chồng dẫn thằng con trai qua California, trước là cho xong cái “nợ” Disneyland, sau là nếu tiện đường và có thì giờ thì thăm bà con bạn bè. Cứ ở một chỗ vài ngày, sáng xách xe đi, chiều xách xe về, mệt sặc sừ vì cái chuyện lái xe chạy bên phải! Cho nên cảnh thì chỉ xem được vài nơi, bạn bè bà con thì chỉ gặp được vài người. Thôi kệ, như bác Nguyễn Tư Phương nói, cảnh ở nước Mỹ thì đi cả đời cũng coi không hết. Còn người thì thôi, có duyên thì thế nào cũng có lần tái ngộ.

Ở phía Bắc Cali may mà có bác Phương, cho nên đời dễ chịu vô cùng. Ghé thăm San Francisco, bác chở tới đầu cầu Golden Gate, xong biểu vợ chồng con cái đi qua cầu cho biết. Còn bác thì đi qua đi lại nhiều lần rồi, nên thôi để bác quay ra ngủ một giấc trong xe cho khoẻ! Vợ chồng con cái bèn hăng hái đi bộ qua cầu; cầu có chỉ mấy nhịp mà sao đi hoài không tới bờ bên kia!

Còn ăn trưa thì thay vì vô mấy nhà hàng cao lương mỹ vị, bác lại chở cả nhà tới cái quán hamburger The Red’s Java House ở chân cầu Bay Bridge! Cũng là cao lương mỹ vị nhưng theo kiểu của bác Phương, của văn hóa, của truyền thống, chớ không trần tục, vật chất. Không có thổ địa thì làm sao mò được tới mấy chỗ này.

Chiều chiều, kiếm chỗ uống cafe thì bác chở vô China town. Ghé quán sách City Lights Bookstore, bác giảng cho một bài học về văn hóa Mỹ của thập niên 60, với nhóm Howl… Cuối ngày vô quán cafe Trieste, không thôi khó có dịp uống được cafe ngon ở đất Cali này. Cảnh trí quán thì giống giống như mấy quán cafe ở Lygon Street bên Melbourne. Nhưng cái truyền thống cả trăm năm thì lãng đãng trong không khí, trong mùi cafe thơm phức, có thể cảm thấy trong từng nhịp thở. Vài ba người khách bắt chước người xưa, vác laptop vô vừa uống cafe vừa gõ lốp cốp, không viết chuyện phim thì làm thơ tình!

Nguyễn Tư Phương và Hạnh ở trước quán cafe Trieste

Buổi tối về Fremont, thả vợ con về nhà người bà con, rồi theo bác Phương về nhà bác để tâm tình thêm. Khổ một nổi bác lại có tật đi ngủ sớm, chắc chín giờ là phải ngồi thiền. Cho nên rán nói chuyện tới mười giờ là bác mở mắt không lên. Đêm khuya, ngồi một mình trong phòng khách, nhìn ra đồi núi chập chùng sau nhà mới chạnh lòng nhớ chuyện hai mươi mốt năm trước qua thăm gia đình bác. Cũng một căn nhà, nhưng sao ngày trước đông đúc, trẻ trung, ồn ào, náo nhiệt. Giờ thì con cháu khôn lớn, ra riêng, nên sao thấy quạnh hiu, trống vắng. Hèn chi tụi tây chẳng gọi là “empty nest”.

Trước khi rời vùng Silicon Valley, nhờ bác Phương mời một vài người bạn lại nhà nói chuyện một tối. Mua ít bánh, ít bia và vài chai rượu đỏ, mà ăn không hết, uống không bao nhiêu, vì ham lo nói chuyện. Có Lê Bá Nghề và Trần Hiệp Năng, bạn thân từ những ngày tháng nhọc nhằn ở trường đại học cũ (nhọc nhằn là anh em nhọc nhằn, còn Bá Nghề thì vững như đồng vì có cái nghề ấp trứng vịt lộn!). Nghề thì kỳ trước qua có gặp, còn Năng thì đã hơn ba mươi năm. Mà sao thấy như mới hôm qua!

Giang Ngọc Tuyết, Lê Đình Long, Hạnh, Huỳnh Hữu Qui Nhơn, Nguyễn Tư Phương, vợ chồng Nguyễn Tú Trinh và Nguyễn Hoàng Lộc
Có Lê Đình Long, nhắc lại chuyện cùng nhau đi gõ sắt tàu Việt Nam Thương Tín hồi những ngày cuối cùng còn là sinh viên khoa Hàng Hải ở Phú Thọ. Nhắc tới Hồ Sĩ Đình, nhắc tới Nguyễn Huyến, những người bạn thân còn gần gũi hay đã đi xa. Chuyện làm rể hụt Hà trọng Sơn, chuyện cái đó cái đom, chuyện Diêu Trì, chuyện Qui Nhơn…

Có Giang Ngọc Tuyết, cô tiểu thư của ông chủ lò bánh mì và hãng cà rem Tân Tiến của Qui Nhơn ngày cũ. Cảm động vì Tuyết lái xe hai tiếng đồng hồ từ Sacramento xuống. Thấy thẹn trong lòng, nếu Tuyết qua Úc thì không biết là có làm siêng lái xe xa chừng ấy để tìm thămTuyết! Ngày xưa không học cùng lớp, không học chung trường, gặp nhau lần đầu mà tưởng như gặp lại bạn cố tri. Nguyễn Hoàng Lộc thì cứ nhắc tới hình ảnh cô tiểu thư Tuyết lái chiếc xe La Dalat chạy lòng vòng ở Qui Nhơn ngày nào. Bác Phương nói vậy mà đúng, quá vãng không phải ai cũng nhớ giống ai. Trong đầu không tưởng tượng ra được cô Tuyết và chiếc xe La Dalat như bác Lộc. Mấy chục năm qua chỉ còn nhớ lại khuôn mặt tròn trĩnh dễ thương với mái tóc cột đuôi gà của cô con gái của ông chủ lò bánh mì hồi còn nhỏ.

Có vợ chồng Huỳnh Hữu Qui Nhơn; có cặp Nguyễn Tú Trinh và Nguyễn Hoàng Lộc, năm mươi mấy tuổi mà tóc vẫn còn đen, tình vẫn còn mùi như hồi còn hai mươi mấy tuổi. Nhắc chuyện Qui Nhơn, chuyện Sài Gòn, chuyện Đại Học Xá Minh Mạng và những bữa cơm nhà bàn mốc meo với canh toàn quốc, những điếu thuốc đen chuyền miệng, những em Hương và em Hà của một thời ca hát để trốn đời, quên ngày, quên tháng…

Đêm sao tàn vội quá, chia tay nhau về mà lòng con lưu luyến. Nhưng phải để Tuyết về vì còn lái xe đường xa. Nhưng phải để bác Phương dọn dẹp rồi còn ngồi thiền. Để các anh em khác về nghỉ, để ngày mai còn sức tiếp tục những chuyện thường ngày…

*****

Las Vegas là một thành phố kì cục. Mới đáp xuống phi trường, bước ra khỏi cửa máy bay là thấy chình ình ngay trước mắt mấy hàng máy chơi poker liền. Ai mà mê là có thể xề đít vô chơi lai rai liền, khỏi cần phải chờ tới mấy cái casino vĩ đại làm chi. Đi lòng vòng thành phố mới hay là máy chơi poker nhan nhản ở khắp nơi, từ nhà hàng tới trạm xăng, tiệm tạp hóa. Không có dịp thăm nên không biết là ở mấy chỗ như viện dưỡng lão, trường học có mấy cái máy ngốn tiền này hay không!

Poker machines trong phi trường Las vegas

Ở Las Vegas có nhiều thứ lạ, nhưng hầu như ít có thứ thiệt. Chẳng hạn tượng Nữ Thần Tự Do như ở New York; tháp Eiffel như ở Paris; Big Ben như ở Luân Đôn; kim tự tháp như ở bên Ai cập, vân vân và vân vân. Nhưng dĩ nhiên toàn là thứ giả. Vô trong cái casino ở dưới chân tháp Eiffel giả chẳng hạn thì bạn sẽ thấy đủ món bài bạc dưới vòm trời mùa hè trong xanh dịu vợi của Paris. Dĩ nhiên là cái bầu trời trong xanh cũng là giả, chỉ là trời xanh mây trắng vẽ trên trần nhà!

Có lẽ ở Las Vegas có mỗi một chuyện thật, rất thật, đó là chuyện thua bài. Hàng năm có mấy chục triệu lượt người tới thăm Las Vegas để đánh bài, chỉ có một số nhỏ là ăn được ít nhiều gì đó, còn đại đa số là thua. Và chủ casino ních hết!  Cho nên mấy cái casino o bế mấy khách hàng của mình vô cùng. Casino nào cũng dính với một cái khách sạn, để khi nào mệt quá thì khách chỉ cần bước mấy bước là về tới phòng, nghỉ vài tiếng đồng hồ cho lại sức. Đói thì có mấy nhà hàng ngay trong casino luôn, à la cart cũng có mà buffet cũng có. Mà là buffet ăn cả ngày, nghĩa là trả tiền một lần rồi đi ra đi vô ăn mấy lần cũng được. Mấy ông chủ casino đâu có ngu, biết là dân đánh bài thì mê chơi, nên đâu có quỡn mà đi ra đi vô ăn uống xành xạch!

Những ai ăn bài, tiền bạc rủng rỉnh trong túi, thì lại đã có mấy cái shop cao cấp mắc tiền chiếu cố. Rồi thêm đủ thứ show cho bà con thư giãn. Đủ thể loại hết, concert, musical, ca múa, hát xiệc, vũ sexy…Tối khuya một chút thì có mấy ông Mễ sắp hàng dọc đường đi phát cho quí ông mấy business card của mấy cô escort! Trên card của một vài cô thấy đề “Free”, bèn thấp thỏm trong bụng; nhưng nhớ lại đây là Las Vegas, không có gì là thiệt, và tụi tây hay nói là ở đời không có chuyện “free lunch”, nên mới thôi, quăng chồng card vô thùng rác cho êm chuyện!

*****

Xuống miền nam California, dẫn thằng con trai đi mấy cái theme park, nó thì vui mà mình thì mệt. Nhưng thôi kệ, vậy cho xong một phần cái tuổi thơ của nó. Mà cũng đáng công, vì về nhà hỏi nó chuyện gì đáng nhớ nhứt cả chuyến đi thì nó trả lời là cả nhà, nhứt là có má, cùng đi rollercoaster!

Có người bạn của bà xã dẫn cả nhà ra quán Hỉ, thực đơn toàn là món Huế, kêu thử một hai món thấy ngon miệng quá cỡ. Tiếc là  không ở được lâu lâu để ăn xoay vòng cho hết cái menu! Hèn chi nhiều người cứ ở lì quận Cam mà hò hét, khỏi cần đi đâu hết mà món ngon vật lạ khắp nơi đều nếm qua được. Thêm một cái bonus của bữa ăn quán Hỉ này là gặp mặt ca sĩ Chế Linh. Anh vẫn còn trẻ trung như mấy chục năm về trước.

Ca sĩ Chế Linh và Hạnh!

Ngày cuối, gọi một vài cú điện thoại, nên có ông bạn cũ Nguyễn Hữu Tưởng lại thăm, và được tâm tình lai rai với anh Nguyễn Trác Hiếu và Kim Tiến. Tưởng học chung ở Công Chánh Phú Thọ, gặp nhau vội vàng, hai thằng uống cafe Starbuck trong khách sạn, dở ẹt mà trong lòng vẫn vui. Còn qua điện thoại, nghe giọng nói anh Hiếu mà tưởng như đang ở Qui Nhơn! Kim Tiến thì chắc lấy chồng người Huế nên bị cái vụ lây lan, giọng nói không còn Bình Định nữa, nhưng tâm tình thì vẫn là của một dân nẫu chính gốc. Nói hoài không hết chuyện. Cầu mong Tiến kiếm ra được hết mấy miếng puzzle sau cùng của cuộc đời, để sống an vui và hạnh phúc, khỏi cần đi thăm bác sĩ đông tây gì hết!

Điểm đáng nhớ nhất của chuyến đi có lẽ là lần ghé thăm Thầy Nguyễn Mộng Giác. Thầy vì tuổi già và sức khỏe yếu kém nên mấy năm nay chỉ nghỉ ngơi ở nhà. Tuy vậy Thầy vẫn còn minh mẫn, và nói chuyện không khác gì hai mươi mốt năm xưa mấy. Buổi trưa, Thầy ở nhà một mình. Hai thầy trò nói chuyện với nhau hai tiếng rưỡi đồng hồ, nói đủ thứ chuyện trên đời. Từ chuyện bệnh tật của Thầy cho tới chuyện nước Mỹ, chuyện quê nhà, chuyện viết lách, chuyện cơm áo, chuyện Sông Côn Mùa Lũ, chuyện Mùa Biển Đông… Tới giờ phải ra về mà trong bụng vẫn còn tiếc. Tiếc hơn nữa là không gặp được Cô Diệu Chi. Cô bận công chuyện nên không có ở nhà. Lần sau cùng gặp Cô cũng đã hơn hai mươi lăm năm rồi, ở ngôi nhà nhỏ nhắn, ấm cúng và yên tĩnh ở Thị Nghè, với những nhọc nhằn lo toan cho một chuyến đi biển.

Thầy Nguyễn Mộng Giác, ở tư gia

Hai mươi mốt năm trước qua thăm, Thầy ký tặng bộ Mùa Biển Động. Nay ghé thăm lần này, Thầy ký tặng thêm bộ Sông Côn Mùa Lũ. Trong lòng cảm động quá chừng, ngoài miệng không dám nói hai tiếng Cám Ơn, sợ là không biết bao nhiêu tiếng cho đủ đây. Thêm một món quà tặng lớn nữa của Thầy là chuyện cho phép cuongde.org đăng lại một số tác phẩm của Thầy.

Vậy là xong một chuyến đi; vội vàng, mệt mỏi, vui, buồn, tiếc nuối, thiếu sót, hạnh phúc trộn lẫn; cũng như nhiều thứ khác trên đời vậy. Xin cám ơn những chân tình, những ưu ái, những nhắc nhở, những sẻ chia… Thôi thì, như người ta thường nói, hẹn một lần tới, hẹn một chuyến đi nữa, dù rằng chưa biết khi nào và đi đâu.

Nguyễn Sĩ Hạnh
10/2009